Năng lực cạnh tranh Việt Nam 2016 vẫn lẹt đẹt
07:07, ngày 13-01-2017
Báo cáo chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu năm 2016 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) cho thấy, chỉ số cạnh tranh của Việt Nam chỉ ở mức 4,31, xếp hạng 60 trong số 138 quốc gia đánh giá.

R&D chưa nằm trong tiềm thức DN Việt Nam

Chưa so sánh với các khu vực khác trên thế giới, chỉ xét trong khu vực ASEAN cho thấy Việt Nam xếp ở vị trí thấp hơn nhiều khi so với Indonesia (41), Thái Lan xếp (34), Malaysia (25) và Singapore ở vị trí thứ 2. Đáng chú ý, với chỉ số cạnh tranh năm 2016 ở mức 60, Việt Nam đã lùi 4 bậc so với năm 2015. 

Việc phân tích thế mạnh và thách thức mà các doanh nghiệp lớn Việt Nam phải đối mặt, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, rất cần thiết, giúp họ nhận thấy những cơ hội và nguy cơ đến từ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, cũng như những điểm mạnh và điểm yếu nội tại để đưa ra được những chiến lược phù hợp.

Có hàng loạt những thách thức mà các doanh nghiệp phải đương đầu. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế, mức độ cạnh tranh quyết liệt hơn, gay gắt hơn với nhiều "đối thủ” mạnh và công cụ, thủ đoạn cạnh tranh cũng đa dạng, phức tạp hơn.

conggnhe

 

Cần chuyển hướng sang khâu nghiên cứu và pháp triển sản phẩm (R&D), marketing và phân phối, phát triển dịch vụ để tạo thêm giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.

Tiếp đó, khi tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, thách thức về thị trường gay gắt hơn, cùng với đó, những đòi hỏi của thị trường, nhất là ở các nước phát triển, ngày càng chặt chẽ, phải áp dụng nhiều tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

Tiếp đến là những thách thức về công nghệ trong nghiên cứu, phát minh và ứng dụng các công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất, giám sát chất lượng sản phẩm. Hoặc, thị trường biến động rất nhanh, đòi hỏi khả năng thích ứng và linh hoạt của các doanh nghiệp Việt Nam, cùng những biện pháp quản trị rủi ro và phòng ngừa thích hợp.

Giải bài toán công nghệ

Việt Nam là địa chỉ đầu tư hấp dẫn của doanh nghiệp nước ngoài, nhưng sau 30 năm qua, doanh nghiệp nước ngoài hầu như không chuyển giao công nghệ cho Việt Nam. Họ đầu tư vào Việt Nam chỉ giải quyết được công ăn, việc làm cho người lao động và một phần tiền thuế, họ không chuyển giao công nghệ, nên khi không đầu tư nữa thì họ cũng đem công nghệ đi.

Các công ty tuyên bố đã nội địa hóa được bao nhiêu phần trăm, nhưng thực tế, doanh nghiệp trong nước cung cấp thiết bị, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài rất ít, chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài khác cung cấp vì doanh nghiệp trong nước không có công nghệ.

Nếu không giải quyết được bài toán chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sang doanh nghiệp Việt Nam, thì hết đời công nghệ họ chuyển sang công nghệ mới hoặc không đầu tư tại Việt Nam nữa.

Công nghệ có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế cũng như bảo đảm quốc phòng, an ninh, nên Chính phủ đặt ra mục tiêu tốc độ đổi mới công nghệ trong khu vực doanh nghiệp đạt bình quân 10%/năm, đây là mức rất thấp so với thế giới vì như vậy sau 10 năm mới thay đổi được toàn bộ công nghệ hiện có.

DN

 

Nhiều nước quy định, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải có lộ trình chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp sở tại. Ở Việt Nam, cần phải quy định lộ trình doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp trong nước. Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng, như vậy sẽ hạn chế dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

Tuy nhiên, để khuyến khích chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp nước ngoài với doanh nghiệp trong nước và giữa doanh nghiệp trong nước với nhau, Luật Chuyển giao công nghệ khuyến khích phát triển thị trường công nghệ. Theo đó, thay vì chuyển giao bắt buộc, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể bán công nghệ cho doanh nghiệp trong nước.

Nhiều ngành, lĩnh vực, kể cả những lĩnh vực then chốt đòi hỏi công nghệ tiên tiến, hiện đại như các nhà máy nhiệt điện, luyện cán thép, khai khoáng… vẫn sử dụng công nghệ lạc hậu. Nhiều doanh nghiệp nhận chuyển giao công nghệ thông qua nhập khẩu máy móc, thiết bị phần lớn đã lạc hậu 2 - 3 thế hệ. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế và khả năng làm chủ công nghệ của Việt Nam.

Bên cạnh những thách thức kể trên, các doanh nghiệp lớn Việt Nam có thể tận dụng được vô số các thuận lợi từ quá trình hội nhập.

Tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế thế giới, thị trường được mở rộng, các doanh nghiệp lớn Việt Nam có cơ hội tham gia chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất khu vực, chuyển dịch cơ cấu sản xuất theo hướng tích cực, tập trung nhiều hơn vào các mặt hàng chế biến, chế tạo có giá trị và hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao hơn.

Hội nhập còn giúp các doanh nghiệp thu hút vốn đầu tư thông qua thị trường tài chính, qua đó có thể tiếp cận nguồn vốn dồi dào từ bên ngoài. Ngoài hình thức vay vốn nước ngoài, nhiều doanh nghiệp lớn lựa chọn phát hành trái phiếu công ty, hoặc chuyển đổi mô hình kinh doanh để tiếp cận vốn thông qua phát hành cổ phiếu.

Vì thế, cần chuyển hướng sang khâu nghiên cứu và pháp triển sản phẩm (R&D), marketing và phân phối, phát triển dịch vụ để tạo thêm giá trị gia tăng cho doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp lớn Việt Nam cần tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu với các sản phẩm công nghệ cao, hàm lượng chất xám lớn, tạo nên giá trị gia tăng cao. Ngoài ra, cần nỗ lực nâng cao năng lực, mở rộng sản xuất để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thông qua đó, cải tiến công nghệ, đào tạo nhân lực, củng cố thương hiệu.

Tạ Chi (Tổng hợp)/TBDN
Doanh Nhân 24H
Doanh Nhân 24H
Doanh Nhân 24H
Doanh Nhân 24H
Doanh Nhân 24H
Doanh Nhân 24H
Doanh Nhân 24H
Doanh Nhân 24H
Doanh Nhân 24H